|
CÂU
ĐỐI ĐỀN HÙNG VÀ TÂM THỨC VIỆT NAM
Nguyễn Khắc Xương
Câu
đối Đền Hùng là cảm nghĩ của nhân dân
gửi Đền Hùng mộ Tổ, tấm lòng nhân dân khi
được về mảnh đất cội nguồn,
được thành kính thắp những nén hương
thơm dâng lên tổ tiên xưa: “Các Vua Hùng đã có công
dựng nước”.
Xét về văn tự, câu đối Đền
Hùng có 3 loại, đó là các câu đối soạn bằng
Hán tự, câu đối Nôm và câu đối chữ Quốc
ngữ ra đời muộn hơn, vào hồi đầu
thế kỷ.
Đề ở Đền Hùng phần nhiều
là câu đôi Hán tự, còn đối Nôm và đối
chữ Quốc ngữ là viết trên giấy lưu lại
hay in trên báo chí hoặc cũng có khi là truyền khẩu mà
nhớ.
Đến cổng đền Hùng, ngước
nhìn lên thấy trang nghiêm như tỏa sáng hào quang 4 chữ
“Cao sơn cảnh hành”. Đây là câu rút ra từ Kinh Thi:
Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ,
có nghĩa là: “Núi cao ta ngẩng trông, đường
rộng lớn ta đi tới”. “Núi cao ta ngẩng trông” là
hướng về cội nguồn như núi cao sừng
sững bền vững muôn đời. Còn “đường
lớn ta đi tới” là chỉ về tương lai
rộng lớn của cả dân tộc. Khổng Tử khi
biên tập các câu hát và thơ dân gian để làm thành
bộ Kinh Thi có khen câu thơ trên: “Người làm
thơ yêu thích cái đạo nhân hậu đến như
thế”. Khen “nhân” là vì đã nghĩ đến cái gốc,
khen “hậu” vì đã nghĩ đến những thế
hệ mai sau.
Hai bên cổng đền là đôi câu đối:
Thác thủy khải cơ, tứ cố sơn hà
qui bản tịch.
Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt
tự nhi tôn.
(Mở lối đắp nền, bốn mặt
non sông qui một mối;
Lên cao nhìn khắp, chập chùng đồi núi cháu con
đông).
Đôi câu đối vừa chỉnh vừa mang ý
nghĩa sâu sắc, đề ở cổng nơi thờ
Tổ chung cả nước thật thích hợp mà lại
chiếu được vào 4 chữ đại tự nói
trên.
Đền Hùng còn có nhiều hoành phi đều
nói lên Hùng Vương là tổ nước, nêu cao công
đức tổ tiên và tấm lòng uống nước
nhớ nguồn như:
- Triệu cơ vương tích (Dấu tích
vua trên nền móng đầu tiên).
- Nam Việt triệu tổ (Vị Tổ
đầu tiên của nước Việt Nam).
- Hùng Vương linh tích (Dấu thiêng
của các vua Hùng).
- Ẩm hà tư nguyên (Uống nước
nhớ nguồn)
- Tử tôn bảo chi (Con cháu hãy giữ gìn
lấy).
- Nam quốc sơn hà (Non sông nước Nam)
- Sơn thủy kim ngọc (Non sông vàng
ngọc).
Các hoành phi trên nói lên tư tưởng và tấm
lòng của nhân dân, câu đối Đền Hùng cũng mang
những nội dung trên nhưng có đi sâu có phát triển,
vì hoành phi là súc tích, chỉ nêu trong 4 chữ cả một
vấn đề lớn có tính khái quát cao.
Về với Đền Hùng mộ Tổ trên
ngọn núi Hùng hay Nghĩa Lĩnh, tại xã Hy Cương,
huyện Phong Châu, Vĩnh Phú, mỗi khách hàng hành
hương không thể không bồi hồi xúc động
trước cảnh núi sông hùng vĩ và tươi đẹp.
Trước mắt là thành phố Việt Trì, Kinh đô
nước Văn Lang, Thủ đô của nước
Việt Nam ta với ba con sông lớn nhất miền
Bắc là Lô, Thao (tức sông Hồng) và Đà như 3 con
rồng uốn khúc quện lấy nhau chầu về núi
Hùng. Khu vực Nghĩa Lĩnh này là hậu cung và cũng là
nơi lập đàn tế Trời Đất và thực
hành những nghi lễ cầu mưa của các vua Hùng.
Câu đối nói lên tâm tưởng mỗi
người trước cảnh tượng hùng tráng “non
sông muôn thuở vững âu vàng”:
Vương đối tác bang, tối hảo trung
gian sơn thủy;
Dân kim thụ tứ, cái tự thượng cổ thánh
thần.
(Vua dựng nước đây, sông núi chốn này
tươi đẹp quá;
Dân nay ơn chịu, thánh thần trao lại
tự ngàn xưa).
Khải mã Nam giao, Hồng Lạc thiên thu tôn
đế quốc;
Hiền vu Tây thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân
từ
(Cõi mở Nam Giao, Hồng Lạc nghìn thu tôn
nước tổ.
Đất tây rộng mở, Tản Lô một dải
vững đền Vua).
Quá cố quốc, miến Lô, Thao, y nhiên bích lãng
hồng đào, khâm đái song lưu hồi Bạch
Hạc.
Đăng tư đình, bái lăng tẩm, do thị
thần kinh xích huyện, sơn hà tự cổ khống Chu
Diên.
(Qua nước cũ ngắm Lô Thao, vẫn
hồng đào bích lãng như xưa, sông hai dải bao quanh
chầu Bạch Hạc;
Lên đền này vái lăng tẩm, kìa xích huyện thần
kinh còn đó, núi bốn bề quay lại giữ Chu Diên).
Các câu đối bắt nguồn từ cảm
hứng núi sông đều mang ý Tổ quốc trường
tồn, giang sơn vững mạnh, từ đó lại
đưa tới nội dung ca tụng, khẳng
định công đức các vua Hùng dựng nước.
Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần
truyền thánh kế.
Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn
bồi.
(Trải qua ba đời đến ba đời
vương, thánh thần truyền dõi.
Sinh trăm trai nở trăm giống Việt, tổ tiên
xây đắp, con cháu vui bồi).
Thánh thần sự nghiệp Thiên Nam thủy;
Hoàng đế cơ đồ Cổ Tích sơn.
(Sự nghiệp bậc thánh thần khởi
đầu ở cõi trời Nam;
Cơ đồ đấng hoàng đế gây dựng
từ núi Cổ Tích).
Hồng Lạc cố cung tồn, diệp
chướng tầng loan quần thủy hợp.
Đế vương linh khí tại, hào phong nộ vũ
nhất phong cao.
(Cung cũ Hồng Lạc còn đây, trùng
điệp núi đồng nhiều sông họp lại;
Khí thiêng đế vương vẫn đó, thét gào mưa
gió một ngọn núi đứng cao).
Duật duật hoàng hoàng phối thiên kỳ
trạch đế nhi tổ;
Thông thông uất uất, đắc địa chi linh
sơn diệc hùng.
(Đẹp đẹp tươi tươi, sánh
ơn lớn của trời, vua còn là tổ;
Xanh xanh tốt tốt, được khí thiêng của
đất, núi cũng rất hùng).
Duy tổ quốc tinh thần, nhất thập bát
truyền căn bản địa;
Khảo cổ dư đồ danh thắng, kỷ thiên
cổ tải đế vương lăng.
(Vì tinh thần Tổ quốc, qua mười tám
đời truyền, đất này là căn bản;
Khảo danh thắng nước nhà sau mấy nghìn năm
lẻ, nơi đây còn lăng vua).
Các câu đối đã nói lên sự trường
tồn thế nước, truyền mãi và vững mạnh
muôn đời:
Thập bát thế truyền trường quốc
tộ;
Ức niên hương hỏa điện kim âu
(Mười tám đời truyền dài thế
nước;
Ngàn năm hương hỏa vững âu vàng).
Kiến quốc lịch thiên niên, phụ
đạo tương thừa công đức hậu;<
Hùng đồ thập bát thế, sơn hà tăng mị
thái bình dân.
(Dựng nước trải ngàn năm, trị
nước hưởng thừa công đức hậu;
Dòng Hùng mười tám đời, non sông thêm tươi
đẹp, dân hưởng thái bình).
Tư tưởng non sông “riêng một cõi
trời”, đứng vững một cõi trời Nam, tư
tưởng “Nam quốc sơn hà” và “các đế nhất
phương” là một tư tưởng hạt nhân
của tinh thần dân tộc, lòng yêu nước nồng
nàn của nhân dân ta, giúp cho nhân dân ta giữ vững chủ quyền
dân tộc, bảo vệ giang sơn bờ cõi chống
lại bất kỳ mưu đồ thôn tính nào. Tư
tưởng “Nam quốc sơn hà” và “Các đế nhất
phương” cũng là nội dung của nhiều câu
đối Đền Hùng:
Thử địa thử sơn Nam quốc
kỷ;
Ngô vương ngô thổ Bắc thần tôn.
(Đất này núi này là của nước Nam;
Vua ta đất ta làm phương Bắc cũng nể vì).
Thiên thư định phận, chính thống
triệu minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ;
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành túy miếu, tam giang
khâm đái thượng triều tôn.
(Sách trời đã định, chính thống
dựng kinh đô, Bách Việt non sông theo tổ
trước;
Núi sáng khí thiêng, cố cung thành đền miếu, ba sông
quanh quất hướng chầu vua).
Tây hanh vu sơn, Tản Đảo Lô Thao, hội
tác nhất thiên vũ trụ;
Nam tố kỳ địa, Đinh, Lý, Trần, Lê
trường lưu ức triệu dư đồ.
(Phía tây thông núi ấy, Tản Đảo, Lô, Thao
hợp thành bầu vũ trụ;
Phương Nam mở đất này, Đinh, Lý, Trần, Lê
ngàn thuở vững dư đồ).
Tư tưởng “uống nước nhớ
nguồn”, về với cội nguồn là tư
tưởng quán xuyến trong các câu đối, dù nói về
công đức Vua Hùng dựng nước hay nói lên tư
tưởng “các đế nhất phương”. Tư
tưởng “uống nước nhớ nguồn” cũng
là một truyền thống trở thành sức mạnh,
một nội lực của tâm thức Việt Nam:
Thái hòa tại vũ sổ thiên tải;
Công liệt ư dân thập bát truyền.
(Mấy nghìn năm trước xây nền
vững;
Mười tám đời truyền dân đội ơn
sâu).
Thông thông uất, trung hữu lăng yên tẩm
yên, long phụ tiên mẫu chi tính linh, hựu ngã hậu nhân
võng khuyết;
Cổ cổ kim kim, thử sơn dã thủy dã, thánh tổ
thần tông chi sáng tạo, y hi tiền vương.
(Trong cây cỏ tốt xanh vẫn có miếu
lăng, hồn thiêng cha mẹ rồng tiên phù hộ
đời sau không thiếu sót;
Suốt cổ kim dài dặc, thấy kìa sông kìa núi, công
đức tổ tiên thần thánh, nhớ ơn vua
trước chẳng hề quên).
Thần thánh khải viêm bang chí kim, địa
bất cải tịch, dân bất cải tụ.
Huân lao phụng thánh miếu thị vi, mộc chi hữu
bản, thủy chi hữu nguyên.
(Thần thánh mở cơ đồ đến
nay, đất vẫn thế, dân vẫn thế;
Công huân thờ thánh miếu từ, cây có gốc nước
có nguồn).
Cảm xúc câu đối Đền Hùng là cảm
xúc trang nghiêm hướng về những điều thiêng
liêng với mỗi người dân Việt; ý thức
về cội nguồn, về sự trường tồn
vững mạnh của đất nước và tư
tưởng uống nước nhớ nguồn. Phải
chăng câu đối Đền Hùng là biểu hiện
của tâm thức Việt Nam ánh lên trên từng nét chữ?
Nhân ngày giỗ tổ Hùng
Vương năm Bính Tí (1996)
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 2
– 1996.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: |