header Banner2
 
 
Thông báo
-
Hỗ trợ trực tuyến
 Tư Vấn

0986.97.97.21

Mr Tòng

097.6551.581

Ảnh ngẫu nhiên
DSC02876.JPG
Thống kê website

Hôm nay478
Hôm qua528
Trong tuần5126
Trong tháng12250
Chúng ta có 2 khách trực tuyến
Website hữu ích
Tiếng anh
Thư viện điện tử
Trường trục tuyến
hinhkns.JPG
Bộ giáo dục
In E-mail
23/08/2011

Cảm nhận từ một chuyến du khảo

                                                                                                                       Song Pha

 

“ Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”

Thường niên cứ vào đầu năm học, trường chúng tôi lại tổ chức cho toàn thể học sinh vừa đi chơi vừa đi khảo cứu ở một địa danh nào đó. Mục đích của những chuyến đi này là giúp các em thư giãn sau những giờ học căng thẳng, đồng thời bổ trợ cho các em một ít kiến thức liên quan các môn Văn, Sử , Địa, Sinh học, thậm chí cho cả môn Lý, Hóa.

Chuyến du khảo lần này, trường chúng tôi chia thành hai đoàn:  khối  lớp 11 và  khối  lớp 12 đi Vĩnh Long.  Từ khối lớp  6 đến khối 10 (trong đó có lớp 10A2 của tôi) đi rừng Sác – Cần Giờ thuộc thành Phố  Hồ Chí Minh.

Hôm nay chúng tôi đi du khảo ở Cần Giờ. Tôi đã sống ở thành phố  này  hơn năm năm , đã từng nghe nói về huyện  Cần Giờ qua  các phương tiện truyền thông, qua sách vở nhưng hôm nay tôi mới thực sự có dịp về Cần Giờ nên tâm trạng tôi vừa vui mừng, hồi hộp xen lẫn lo âu  nhiều thứ. Đúng  6h30 phút, chiếc xe du lịch to đoành cùng bác tài xế vui tính với anh hướng dẫn viên du lịch nhiệt tình, chu đáo đến đón cô trò chúng tôi tại cổng trường Việt Thanh.. Đường chim bay từ thành phố Hồ Chí Minh đến huyện đảo Cần Giờ chừng hai lăm cây số nhưng nếu đi ô tô thì phải vòng vèo mất hai giờ.

Để đến được Cần Giờ đoàn chúng tôi còn phải vượt sông, qua  phà Bình Khánh - mất hơn 15 phút, chính xác là 18 phút.  Ngồi trên chuyến phà  nhìn xuống lòng sông Nhà Bè nước đục một màu trắng bạc,  xa xa trôi vài cụm lục bình đơn độc xuôi theo dòng nước, cảm giác con người nhỏ bé đến lạ lùng.

Xe chuyển bánh, sự náo nhiệt, ồn ào, chật chội  vốn có của thành phố Sài Gòn dường như đang từ từ được bỏ lại phía sau. Trước mắt chúng tôi  bạt ngàn một màu xanh bởi màu lá của những cây dừa nước, của rừng ngập mặn với những cây đước cây bần cây sú cây vẹt xanh mướt, cao vót và rậm rạp. Không khí mát rượi trong lành, tinh khiết đến ngây ngất. Quả không hổ danh khi người ta gọi rừng Sác  là“ lá phổi xanh của thành phố Hồ Chí Minh”.

Điểm dừng chân đầu tiên của đoàn chúng tôi là khu lâm viên đảo Khỉ. Khỉ ở đây nhiều vô số.  Khỉ bố, khỉ  mẹ, khỉ con cứ thấy người là kêu khèn khẹt, bắng nhắng cả lên. Có con còn nhảy chồm vào du khách để giật thức ăn. Học trò tôi đứa nào đứa nấy la oai oái, thậm  chí có đứa phát khóc vì hoảng  sợ.

Dạo một vòng với khỉ, thăm cá sấu và các loại thú khác, viếng bảo tàng để tìm hiểu vùng đất có lịch sử lâu đời này và những chiến công vang dội từng gây nhiều nỗi kinh hoàng cho thực dân Pháp - đế quốc Mỹ bởi Trung đoàn 10 Rừng Sác Anh hùng, chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình ra biển. Biển Cần Giờ không kiêu sa,  lộng lẫy như  biển Nha Trang, không ồn ào náo nhiệt như biển Vũng Tàu, không nhiều nắng và gió như biển Phan Thiết, biển Cần Giờ  vắng lặng, có phần xơ xác, nghèo khó vốn như cuộc sống của nhiều người dân ở vùng đất này.

Xe vừa  đến điểm dừng, học sinh trường tôi đã chạy và tiến rất nhanh về phía biển. Bãi biển Cần giờ lúc thuỷ triều chưa lên thật mênh mông, rộng lớn, cảm giác con người như vô định và quá nhỏ bé trước thiên nhiên. Phần vì say xe, phần vì cái nắng nóng cháy sạm da cộng với tiếng ồn ào, náo nhiệt của đám học trò tinh quái đã tạo thành một bản “ hợp âm” mà người dễ tính mấy cũng dễ bị cáu gắt. Vậy là, tôi cố tình lánh sang  vị trí khác, cố gắng lần theo bãi cát trắng xen lẫn thứ bùn sình đen, mùi tanh nồng nặc. Tôi cố tìm sự  tĩnh lặng dành riêng cho mình. Trước mắt tôi là mấy em học sinh nam chơi đá banh, bên kia vài em nữ nhảy chồm lên, rồi hét toáng vì vừa bắt được mấy  con cua biển…

Nhắc ống kính máy ảnh trên tay, tôi đang lựa chọn hình ảnh đẹp  để  chộp vài kiểu làm kỷ niệm. Và bất ngờ ống kính đã dừng lại ngay một hình ảnh – hình ảnh này đã ám ảnh tôi suốt cả một chuyến đi . Đó  là một cụ bà. Thả máy ảnh xuống, tôi nhanh chóng tiến lại gần, đứng cạnh bà quan sát hồi lâu rồi cất giọng gọi khẽ : “ Cháu chào ngoại ! Ngoại ơi! Ngoại làm gì vậy ? “ Bà vẫn cặm cụi , hai tay vẫn thoăn thoắt cào lịa lịa và không trả lời. Có lẽ, vì say sưa làm hay vì bà đã lớn  tuổi,  tai bị lãng đi mà bà  không có một phản ứng gì. Tôi vẫn kiên nhẫn gọi lại lần nữa và bà  đã ngước lên nhìn tôi. Đối diện với tôi là một  khuôn mặt nhăn nheo, nước da cháy đen vì nắng  gió biển. Hình như cái nghèo, cái khổ, vất vả suồt một đời đã điểm rõ mồn một trên khuôn mặt khắc khổ của bà.

Bà tên là Hồ Thị Dợt. Năm nay bà 81 tuổi, nhà ở Long Thành (thuộc huyện Cần Giờ).  Nói là nhà nhưng thực chất là một cái chòi che tạm nắng mưa ( theo lời bà kể).  Căn chòi này là chốn đi về của ba đứa cháu nội và là nơi ngã lưng của bà sau một ngày cào nghêu ở bãi biển này.Qua vài câu hỏi han thân tình, Bà đã thật thà kể hết gia cảnh của gia đình bà cho tôi nghe. Tôi thật sự xúc động, cặp kính cận dày côm đã nhoà đi , không thể dấu được những giọt nước mắt của tôi. Bà kể:  bà có hai người con, một trai một gái nhưng đều đã bỏ bà mà đi trước về thế giới bên kia. Đứa con trai duy nhất mất đi khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại cho bà ba đứa cháu gái đang tuổi đến trường . Đứa con dâu không chịu nỗi cảnh sống túng quẫn đã nhẫn tâm ra đi biền biền không một lời từ giã. Đứa cháu gái lớn tên là Huỳnh Hương Thảo năm nay học lớp 10 và hai em nhỏ Huỳnh Thị Ngãi và Huỳnh Cẩm Nhung vừa lên lớp 7 và 8.

Theo lời bà, mỗi sáng, mới 6 giờ bà đã có mặt tại bãi biển này để cào nghêu cho đến tận 6g chiều mới về nhà. Ngày nào  may mắn thì  kiếm được mười lăm ngàn, còn bình thường bà chỉ kiếm được khoảng bảy tám ngàn. Tôi hỏi dồn:  “ vậy tiền đâu bà đong gạo, rồi lo cho ba đứa cháu ăn học?”. Bà tiếp ngay: “ Khổ lắm con ơi, thiếu thốn đủ thứ, đói ăn nhưng ba đứa vẫn đến trường được bởi tụi nhỏ có được học bổng của nhà trường và nhiều tổ chức gom góp cho …chứ không thì…”.  Bà bỏ lững câu nói nhưng tôi ngầm hiểu nỗi thống khổ của bà . Không đắn đo, tôi rút  trong ví cầm tay đưa vội bà số tiền ít ỏi và nói: “ Bà cầm số tiền này về đong gạo, bà về đi, giờ đã quá trưa rồi.”  Vừa dứt câu,  tôi nghe lao xao từ phía sau lưng, à thì ra đám học sinh  trường tôi đã xúm lại tự bao giờ, không ai bảo ai chúng lần lượt móc túi ra. Đủ mệnh giá.  Một ngàn, hai ngàn, năm ngàn, hai chục ngàn, thậm chí năm chục ngàn, những bàn tay nhỏ bé đang kết thành tấm lòng thông cảm – hiểu biết – chia sẻ bao la. Có đứa nhanh chân chạy vội vào lều trại mang ra cho bà hộp cơm đã nguội  lạnh. “ Bà ăn đi cho đỡ đói – một nam học sinh nói. Vậy là trong nháy mắt bà nhận được nhận số tiền là 320.000đ. Những cô cậu học trò của tôi đã biết đấu tay đan thành tấm lòng nhân ái để trải ra với người đàn bà lớn tuổi bên bãi biến, một người đồng bào có số phận không may mắn. Cầm số tiền nhỏ, tay bà vẫn còn dính đầy  bùn sình  tôi cảm nhận sự hạnh phúc đến tột cùng của một người phụ nữ tuổi đã quá xế chiều mà cái nghèo, cái đói vẫn còn đeo bám.  Bà khóc, hai hàng nước mắt chảy tràn qua những nếp nhăn đã hõm sâu trên gương mặt đen sạm và xương xóc của bà . Cô trò tôi cũng khóc.

Rồi nhanh chóng, đứa cầm lấy cào từ tay  của bà, cố cào, cào thật nhanh hòng tìm được thêm con nghêu nào đó, đứa ngồi cạnh sát vai bà nâng bàn tay gầy guộc của  bà, đứa cất tiếng nói “ bà ơi thôi bà về đi kẻo đau đấy”.  Tôi  kịp đọc trong mắt , trong từng lời nói, trong từng cử chỉ của học trò tôi sự đồng cảm, thương xót… Chúng nó như muốn làm tất cả những gì có thể để giúp đỡ bà trong thời gian quá ngắn ngủi này.

Trước khi rời bãi biển Cần Giờ , nơi  người đàn bà nghèo khó cào nghêu mưu sinh, bà đã kịp tìm gặp tôi và nhắn vội:“ có dịp  về lại Cần Giờ, cháu ra bãi biển này sẽ gặp bà . Bà cảm ơn cháu, cảm ơn học sinh của cháu! “ Trời ơi! Trong thâm tâm tôi như muốn nói cho bà nghe rằng : “cháu không muốn gặp bà ở bãi biển này nữa đâu”.  Một lời nhắn vội, một lời cảm ơn tôi nghe sao mà đắng ngắt. Hình như mắt tôi đã cay xè.  Rồi đây, bà vẫn tiếp tục làm công việc cào nghêu, vẫn phải mưu sinh. Tôi đã mường tượng hình dung cuộc sống của bốn bà cháu trong thời gian sắp tới,  nhưng rồi tôi không dám nghĩ nhiều hơn.

Ăn cơm trưa xong,  đoàn chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình và điểm dừng chân tiếp theo là trụ sở huyện đoàn Cần Giờ.  Sự gặp gỡ chưa đầy nửa giờ nhưng đầy ắp tình cảm. Trong cái nắng, cái tối om vì cúp điện, ngồi trong  hội trường của huyện đoàn, cô trò tôi mồ hôi nhễ nhãi, ướt đẫm cả vai áo. Thầy phó hiệu trưởng thay mặt lãnh đạo nhà trường trao tặng sách giáo khoa và áo quần cho học sinh nghèo vùng đất anh hùng từng là chiến địa ác liệt năm xưa. Khi thầy phát biểu,tôi đọc trong mắt thầy, trong từng lời nói của thầy là sự chân thành, sẻ chia đầy ấm áp, thân tình; trong mỗi ánh mắt của học sinh tôi là niềm vui và niềm hạnh phúc của cả người trao lẫn kẻ nhận.

 Tôi tin những món quà mà  nhà trường  gửi tặng các học sinh  nghèo ở vùng quê này  sẽ có phần cho các cháu của bà Dợt.  Nhiều hơn thế nữa, đó là sự san sẻ,  niềm an ủi,  niềm tin của những người đồng bào của bà đã gởi trao  tia hy vọng cho cháu bà. Tôi hy vọng rồi đây học sinh huyện Cần Giờ nói chung và ba đứa cháu của bà Dợt nói riêng sẽ nhận được rất nhiều sự quan tâm hơn nữa của tất cả mọi người chứ không riêng gì trường Việt Thanh chúng tôi.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

 

Bản quyền thuộc Trường Trung Học Phổ Thông Tư Thục Việt Thanh
Địa chỉ: 261 Cộng Hoà - Phường 13 - Tân Bình - TP.HCM
Điện thoại: 08.3812 4817 - 3849 8416 - Fax: 08.3812 4794
Email: Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó - Website: www.truongvietthanh.edu.vn
Thiết kế web bởi: Hoàng Vi Corp