|
Cảm nhận từ một chuyến du khảo
Song Pha
“ Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”
Thường
niên cứ vào đầu năm học, trường chúng
tôi lại tổ chức cho toàn thể học sinh vừa
đi chơi vừa đi khảo cứu ở một
địa danh nào đó. Mục đích của những chuyến
đi này là giúp các em thư giãn sau những giờ học
căng thẳng, đồng thời bổ trợ cho các em
một ít kiến thức liên quan các môn Văn, Sử ,
Địa, Sinh học, thậm chí cho cả môn Lý, Hóa.
Chuyến
du khảo lần này, trường chúng tôi chia thành hai
đoàn: khối lớp 11 và khối lớp 12 đi Vĩnh
Long. Từ khối lớp 6 đến khối 10 (trong
đó có lớp 10A2 của tôi) đi rừng Sác – Cần Giờ
thuộc thành Phố Hồ Chí Minh.
Hôm nay chúng
tôi đi du khảo ở Cần Giờ. Tôi đã sống ở
thành phố này hơn năm năm , đã từng nghe nói
về huyện Cần Giờ qua các phương tiện truyền
thông, qua sách vở nhưng hôm nay tôi mới thực sự có
dịp về Cần Giờ nên tâm trạng tôi vừa vui mừng,
hồi hộp xen lẫn lo âu nhiều thứ. Đúng 6h30
phút, chiếc xe du lịch to đoành cùng bác tài xế vui tính
với anh hướng dẫn viên du lịch nhiệt tình,
chu đáo đến đón cô trò chúng tôi tại cổng
trường Việt Thanh.. Đường chim bay từ
thành phố Hồ Chí Minh đến huyện đảo Cần
Giờ chừng hai lăm cây số nhưng nếu đi ô
tô thì phải vòng vèo mất hai giờ.
Để
đến được Cần Giờ đoàn chúng tôi còn
phải vượt sông, qua phà Bình Khánh - mất hơn 15
phút, chính xác là 18 phút. Ngồi trên chuyến phà nhìn xuống
lòng sông Nhà Bè nước đục một màu trắng bạc,
xa xa trôi vài cụm lục bình đơn độc xuôi theo
dòng nước, cảm giác con người nhỏ bé đến
lạ lùng.
Xe chuyển
bánh, sự náo nhiệt, ồn ào, chật chội vốn
có của thành phố Sài Gòn dường như đang từ
từ được bỏ lại phía sau. Trước mắt
chúng tôi bạt ngàn một màu xanh bởi màu lá của những
cây dừa nước, của rừng ngập mặn với
những cây đước cây bần cây sú cây vẹt xanh
mướt, cao vót và rậm rạp. Không khí mát rượi
trong lành, tinh khiết đến ngây ngất. Quả không hổ
danh khi người ta gọi rừng Sác là“ lá phổi xanh của
thành phố Hồ Chí Minh”.
Điểm
dừng chân đầu tiên của đoàn chúng tôi là khu lâm
viên đảo Khỉ. Khỉ ở đây nhiều vô số.
Khỉ bố, khỉ mẹ, khỉ con cứ thấy
người là kêu khèn khẹt, bắng nhắng cả lên.
Có con còn nhảy chồm vào du khách để giật thức
ăn. Học trò tôi đứa nào đứa nấy la oai
oái, thậm chí có đứa phát khóc vì hoảng sợ.
Dạo
một vòng với khỉ, thăm cá sấu và các loại
thú khác, viếng bảo tàng để tìm hiểu vùng đất
có lịch sử lâu đời này và những chiến công
vang dội từng gây nhiều nỗi kinh hoàng cho thực
dân Pháp - đế quốc Mỹ bởi Trung đoàn 10 Rừng
Sác Anh hùng, chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình ra
biển. Biển Cần Giờ không kiêu sa, lộng lẫy
như biển Nha Trang, không ồn ào náo nhiệt như biển
Vũng Tàu, không nhiều nắng và gió như biển Phan Thiết,
biển Cần Giờ vắng lặng, có phần xơ
xác, nghèo khó vốn như cuộc sống của nhiều
người dân ở vùng đất này.

Xe vừa
đến điểm dừng, học sinh trường tôi
đã chạy và tiến rất nhanh về phía biển. Bãi
biển Cần giờ lúc thuỷ triều chưa lên thật
mênh mông, rộng lớn, cảm giác con người như
vô định và quá nhỏ bé trước thiên nhiên. Phần
vì say xe, phần vì cái nắng nóng cháy sạm da cộng với
tiếng ồn ào, náo nhiệt của đám học trò tinh
quái đã tạo thành một bản “ hợp âm” mà người
dễ tính mấy cũng dễ bị cáu gắt. Vậy là,
tôi cố tình lánh sang vị trí khác, cố gắng lần
theo bãi cát trắng xen lẫn thứ bùn sình đen, mùi tanh nồng
nặc. Tôi cố tìm sự tĩnh lặng dành riêng cho mình.
Trước mắt tôi là mấy em học sinh nam chơi
đá banh, bên kia vài em nữ nhảy chồm lên, rồi hét
toáng vì vừa bắt được mấy con cua biển…

Nhắc
ống kính máy ảnh trên tay, tôi đang lựa chọn hình ảnh
đẹp để chộp vài kiểu làm kỷ niệm.
Và bất ngờ ống kính đã dừng lại ngay một
hình ảnh – hình ảnh này đã ám ảnh tôi suốt cả
một chuyến đi . Đó là một cụ bà. Thả
máy ảnh xuống, tôi nhanh chóng tiến lại gần,
đứng cạnh bà quan sát hồi lâu rồi cất giọng
gọi khẽ : “ Cháu chào ngoại ! Ngoại ơi! Ngoại
làm gì vậy ? “ Bà vẫn cặm cụi , hai tay vẫn
thoăn thoắt cào lịa lịa và không trả lời. Có
lẽ, vì say sưa làm hay vì bà đã lớn tuổi, tai bị
lãng đi mà bà không có một phản ứng gì. Tôi vẫn
kiên nhẫn gọi lại lần nữa và bà đã ngước
lên nhìn tôi. Đối diện với tôi là một khuôn mặt
nhăn nheo, nước da cháy đen vì nắng gió biển.
Hình như cái nghèo, cái khổ, vất vả suồt một
đời đã điểm rõ mồn một trên khuôn mặt
khắc khổ của bà.
Bà tên là
Hồ Thị Dợt. Năm nay bà 81 tuổi, nhà ở Long
Thành (thuộc huyện Cần Giờ). Nói là nhà nhưng thực
chất là một cái chòi che tạm nắng mưa ( theo lời
bà kể). Căn chòi này là chốn đi về của ba
đứa cháu nội và là nơi ngã lưng của bà sau một
ngày cào nghêu ở bãi biển này.Qua vài câu hỏi han thân tình,
Bà đã thật thà kể hết gia cảnh của gia
đình bà cho tôi nghe. Tôi thật sự xúc động, cặp
kính cận dày côm đã nhoà đi , không thể dấu
được những giọt nước mắt của
tôi. Bà kể: bà có hai người con, một trai một gái
nhưng đều đã bỏ bà mà đi trước về
thế giới bên kia. Đứa con trai duy nhất mất
đi khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại
cho bà ba đứa cháu gái đang tuổi đến trường
. Đứa con dâu không chịu nỗi cảnh sống túng
quẫn đã nhẫn tâm ra đi biền biền không một
lời từ giã. Đứa cháu gái lớn tên là Huỳnh
Hương Thảo năm nay học lớp 10 và hai em nhỏ
Huỳnh Thị Ngãi và Huỳnh Cẩm Nhung vừa lên lớp
7 và 8.
Theo lời
bà, mỗi sáng, mới 6 giờ bà đã có mặt tại bãi
biển này để cào nghêu cho đến tận 6g chiều
mới về nhà. Ngày nào may mắn thì kiếm được
mười lăm ngàn, còn bình thường bà chỉ kiếm
được khoảng bảy tám ngàn. Tôi hỏi dồn:
“ vậy tiền đâu bà đong gạo, rồi lo cho ba
đứa cháu ăn học?”. Bà tiếp ngay: “ Khổ
lắm con ơi, thiếu thốn đủ thứ, đói
ăn nhưng ba đứa vẫn đến trường
được bởi tụi nhỏ có được học
bổng của nhà trường và nhiều tổ chức
gom góp cho …chứ không thì…”. Bà bỏ lững câu nói
nhưng tôi ngầm hiểu nỗi thống khổ của
bà . Không đắn đo, tôi rút trong ví cầm tay
đưa vội bà số tiền ít ỏi và nói: “ Bà cầm
số tiền này về đong gạo, bà về đi, giờ
đã quá trưa rồi.” Vừa dứt câu, tôi nghe lao
xao từ phía sau lưng, à thì ra đám học sinh trường
tôi đã xúm lại tự bao giờ, không ai bảo ai chúng lần
lượt móc túi ra. Đủ mệnh giá. Một ngàn, hai
ngàn, năm ngàn, hai chục ngàn, thậm chí năm chục
ngàn, những bàn tay nhỏ bé đang kết thành tấm lòng
thông cảm – hiểu biết – chia sẻ bao la. Có đứa
nhanh chân chạy vội vào lều trại mang ra cho bà hộp
cơm đã nguội lạnh. “ Bà ăn đi cho đỡ
đói – một nam học sinh nói. Vậy là trong nháy mắt
bà nhận được nhận số tiền là 320.000đ.
Những cô cậu học trò của tôi đã biết đấu
tay đan thành tấm lòng nhân ái để trải ra với
người đàn bà lớn tuổi bên bãi biến, một
người đồng bào có số phận không may mắn.
Cầm số tiền nhỏ, tay bà vẫn còn dính đầy
bùn sình tôi cảm nhận sự hạnh phúc đến tột
cùng của một người phụ nữ tuổi đã
quá xế chiều mà cái nghèo, cái đói vẫn còn đeo bám.
Bà khóc, hai hàng nước mắt chảy tràn qua những nếp
nhăn đã hõm sâu trên gương mặt đen sạm và
xương xóc của bà . Cô trò tôi cũng khóc.
Rồi
nhanh chóng, đứa cầm lấy cào từ tay của bà,
cố cào, cào thật nhanh hòng tìm được thêm con nghêu
nào đó, đứa ngồi cạnh sát vai bà nâng bàn tay gầy
guộc của bà, đứa cất tiếng nói “ bà
ơi thôi bà về đi kẻo đau đấy”. Tôi
kịp đọc trong mắt , trong từng lời nói,
trong từng cử chỉ của học trò tôi sự đồng
cảm, thương xót… Chúng nó như muốn làm tất cả
những gì có thể để giúp đỡ bà trong thời
gian quá ngắn ngủi này.

Trước
khi rời bãi biển Cần Giờ , nơi người
đàn bà nghèo khó cào nghêu mưu sinh, bà đã kịp tìm gặp
tôi và nhắn vội:“ có dịp về lại Cần Giờ,
cháu ra bãi biển này sẽ gặp bà . Bà cảm ơn cháu, cảm
ơn học sinh của cháu! “ Trời ơi! Trong thâm tâm
tôi như muốn nói cho bà nghe rằng : “cháu không muốn gặp
bà ở bãi biển này nữa đâu”. Một lời nhắn
vội, một lời cảm ơn tôi nghe sao mà đắng
ngắt. Hình như mắt tôi đã cay xè. Rồi đây, bà
vẫn tiếp tục làm công việc cào nghêu, vẫn phải
mưu sinh. Tôi đã mường tượng hình dung cuộc
sống của bốn bà cháu trong thời gian sắp tới,
nhưng rồi tôi không dám nghĩ nhiều hơn.

Ăn
cơm trưa xong, đoàn chúng tôi lại tiếp tục cuộc
hành trình và điểm dừng chân tiếp theo là trụ sở
huyện đoàn Cần Giờ. Sự gặp gỡ
chưa đầy nửa giờ nhưng đầy ắp
tình cảm. Trong cái nắng, cái tối om vì cúp điện,
ngồi trong hội trường của huyện đoàn,
cô trò tôi mồ hôi nhễ nhãi, ướt đẫm cả
vai áo. Thầy phó hiệu trưởng thay mặt lãnh đạo
nhà trường trao tặng sách giáo khoa và áo quần cho học
sinh nghèo vùng đất anh hùng từng là chiến địa
ác liệt năm xưa. Khi thầy phát biểu,tôi đọc
trong mắt thầy, trong từng lời nói của thầy
là sự chân thành, sẻ chia đầy ấm áp, thân tình; trong
mỗi ánh mắt của học sinh tôi là niềm vui và niềm
hạnh phúc của cả người trao lẫn kẻ nhận.
Tôi tin
những món quà mà nhà trường gửi tặng các học
sinh nghèo ở vùng quê này sẽ có phần cho các cháu của
bà Dợt. Nhiều hơn thế nữa, đó là sự san
sẻ, niềm an ủi, niềm tin của những
người đồng bào của bà đã gởi trao tia
hy vọng cho cháu bà. Tôi hy vọng rồi đây học sinh huyện
Cần Giờ nói chung và ba đứa cháu của bà Dợt
nói riêng sẽ nhận được rất nhiều sự
quan tâm hơn nữa của tất cả mọi người
chứ không riêng gì trường Việt Thanh chúng tôi.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: |