|
|
#1
|
|||
|
|||
|
1. Em nghe nói nhiều về cái chết của A.Puskin, vậy đâu là sự thực? Có thể cho em một số thông tin về cuộc đấu súng của Ông không? ( locthien- lamdong@yahoo.com.vn)
Trả lời: Cho đến nay có khá nhiều giả thuyết được các nhà nghiên cứu đưa ra xoay quanh cái chết của Pushkin , dưới đây là một số tư liệu giúp em hiều thêm về vấn đề đó. Cuộc đấu súng của Pushkin và Dantes diễn ra ngày 8 tháng 2 năm 1837. Hai ngày sau, 10 tháng 2, nhà thơ số một của nước Nga qua đời. Theo giả thuyết chính thức, Pushkin bị chết bởi một vết tử thương từ viên đạn súng lục của Dantes. Tất nhiên, nếu cuộc đấu súng diễn ra trong thời đại chúng ta thì nhà thơ có thể được cứu sống - các nhà y học nhiều lần khẳng định rằng vết thương của Pushkin không nghiêm trọng lắm, nhưng khoa học lúc bấy giờ chưa đủ trình độ để cứu chữa cho ông. Gây ra nhiều tranh cãi hơn cả là nguyên nhân dẫn tới cuộc đấu súng bất hạnh. Nói một cách khác, ai là người có lỗi trong cái chết của Aleksandr Pushkin? Về vấn đề này lâu nay đã tồn tại rất nhiều giả thuyết, chứng cứ khác nhau, nhiều lời đồn đại và đàm tiếu, nhiều nhân chứng, từ các bác sĩ đến bạn bè của nhà thơ. Hơn nữa, sự thật, tất nhiên, ở mỗi người một khác. Giả thuyết cổ điển được giảng dạy ở trường phổ thông như sau: một vài năm sau khi cưới cô vợ trẻ xinh đẹp Natalya Goncharova, Pushkin chạm trán với kẻ tình địch của mình George Dantes. Anh chàng người Pháp này ra sức ve vãn vợ của Pushkin, sau đó bị thách đấu súng và đã sát hại nhà thơ. Tuy nhiên, càng ngày các nhà nghiên cứu càng phát hiện ra nhiều chi tiết khác biệt so với những gì ban đầu chúng ta lầm tưởng. Cuộc đấu súng thứ nhất của Pushkin và Dantes không thành vì nó được thách trước thềm đám cưới của Ekaterina Goncharova (chị gái của Natalya) và Dantes. Và cuộc đấu súng lần thứ hai do Pushkin thách đã trở thành định mệnh. Ngoài rất nhiều những phỏng đoán khác nhau về mối quan hệ qua lại bên trong bộ ba này còn có một số giả thuyết đã được khẳng định bằng tư liệu: tất nhiên ở mức độ mà những người ngoài có thể phán xét về chúng. Giả thuyết đầu tiên và thú vị nhất thuộc về bá tước Aleksandr Vasilyevich Trubetskiy, vốn là người không quen biết thân tình với Pushkin, nhưng hiểu ông rất rõ qua các cuộc gặp gỡ riêng trong xã hội thượng lưu Peterburg và qua mối quan hệ gần gũi của mình với Dantes. Câu chuyện được ghi lại của bá tước kể về một mối quan hệ hoàn toàn mới đối với tấn bi kịch này. Theo các hồi ức và chứng cứ mà Trubetskiy tiếp cận được thì Pushkin hoàn toàn không ghen Natalya với Dantes. Tình hình ở đây hơi khác thường - Pushkin yêu cô em gái của vợ, Alexandrine, một người không xinh đẹp như bà chị, nhưng lại cực kỳ thông minh. Nàng cũng đem lòng yêu nhà thơ khi ông còn chưa cưới Natalya, và hơn nữa, nàng nhớ thuộc lòng tất cả các tác phẩm của ông. Như Trubetskiy khẳng định, Pushkin đã đáp lại mối tình của Alexandrine. Dantes thường hay đến chơi nhà Pushkin. Anh ta tán tỉnh Natalya như là tất cả những người đẹp khác, nhưng nói chung anh ta cũng không say đắm nàng một cách đặc biệt. Những bức thư do Liza, người hầu của Natalya, chuyển tới cũng không nói lên điều gì: trong thời chúng ta đó là chuyện bình thường. Pushkin biết rất rõ rằng Dantes không thực sự say đắm vợ mình, nhà thơ nói chung không ghen, nhưng như ông nói, ông rất ghét Dantes bởi lối cư xử hơi hỗn láo, ngôn ngữ khiếm nhã đối với các bà, bá tước Trubetskiy khẳng định. Pushkin có ác cảm với Dantes, nhưng ông cũng chỉ dừng lại ở đó. Cuộc đấu súng trở thành hậu quả của một mối ghen tuông khác - với cô em gái Alexandrine: chẳng bao lâu sau lễ cưới Pushkin đi lại với Alexandrine và sống cùng nàng. Sự kiện này không còn gì phải nghi ngờ. Chính Alexandrine đã thú nhận điều đó. Bạn hãy nghĩ xem, trong hoàn cảnh đó liệu Pushkin còn có thể ghen vợ mình với Dantes. Nếu như Pushkin không thích những cuộc viếng thăm của Dantes, thì nói chung không phải vì Dantes tán tỉnh và pha trò với vợ ông, mà là vì khi đến chơi nhà Pushkin, Dantes gặp gỡ với Alexandrine. Nguyên nhân chính của cuộc đấu súng là sự kiện Dantes cùng với vợ là Ekaterina sắp sửa rời nước Nga sau lễ cưới và Alexandrine cũng chuẩn bị đi cùng họ. Tất nhiên, vì câu chuyện tình giữa Pushkin và Alexandrine được giữ bí mật rất cẩn thận, nên mối quan hệ của Dantes với Natalya đã trở thành nguyên nhân chính thức. Giả thuyết thứ hai thuộc về một hậu duệ của George Dantes, nam tước Loter de Gekkern Dantes. Trong bài trả lời phỏng vấn gần đây trên tờ Thanh niên Moskva ông đã đưa ra giả thuyết của mình dựa trên nhiều công trình nghiên cứu. Theo nam tước, Pushkin yêu Natalya, yêu một cách chân thành, ngưỡng mộ nàng, nhưng lại tỏ ra rất “gia trưởng”, ông không cho vợ thể hiện cá tính của mình. Loter de Gekkern đã đưa ra một bằng chứng là lá thư của nhà thơ gửi mẹ vợ của mình, bà Natalya Ivanovna Goncharova, trong đó ông viết: “Nghĩa vụ của vợ con là phục tùng những gì con cho phép”. Vladimir Fridkin, tác giả cuốn sách “Ngành Pushkin học ở nước ngoài”, viết: “Khi cưới Natalya, Pushkin ý thức được rằng Natalya còn chưa yêu ông, và ông đã viết điều đó cho bà mẹ vợ. Nhưng vào năm 1831 ông muốn tu tỉnh và tin rằng có thể sống hạnh phúc với Natalya. Nàng chính là nguyên mẫu của nhân vật Tachyana Larina trong tiểu thuyết thơ “Evgeniy Onegin” – điềm đạm, thuỷ chung, kín đáo... Nhưng ta hãy nhớ lại xem tác phẩm này đã kết thúc như thế nào: là vợ của một viên tướng, nhưng linh hồn của Tachyana lại thuộc về một người đàn ông khác. Đối với Pushkin sự chung thuỷ về thể xác của nhân vật đối với người chồng hợp pháp trong câu chuyện này không phải là điều chủ yếu. Đối với các thi sĩ nói chung linh hồn bao giờ cũng quan trọng hơn...” Chính vì vậy, ngày 4 tháng 11 năm 1836, sau khi nhận được bức thư nặc danh về sự phản bội của vợ, Pushkin đã tra hỏi Natalya Nikolayevna và nàng đã chính thức thừa nhận có quan hệ với Dantes. Điều quan trọng không phải là sự phản bội về thể xác, mà là tinh thần. Ngôi nhà của thi sĩ giây phút này sụp đổ như làm bằng các tông, Vladimir Fridkin viết tiếp. - Pushkin đánh mất ý nghĩa cuộc sống của mình. Ông không muốn giết chết người khác chỉ vì hắn được vợ mình yêu. Nhưng có thể tìm cái chết cho chính bản thân mình bằng chuyện đó. Rất có thể đấy là nguyên nhân của những hành động rồ dại của Pushkin trong những tháng cuối cùng của cuộc đời. Trong hồi ký của mình Sologub viết: “Tất cả mọi người đều ngăn cản Pushkin. Chỉ một mình ông không muốn điều đó”. Pavlishchev, con rể của Pushkin cũng viết: “Nhà thơ tìm đến cái chết, vì ông sẽ rất bất hạnh, nếu như còn sống...” Tuy nhiên giả thuyết này không được bà Galina Sedova, người phụ trách nhà lưu niệm Pushkin, tác giả cuốn sách vừa hoàn thành về những tháng cuối đời của nhà thơ, chia sẻ. Theo bà, giả thuyết cho rằng Pushkin muốn kết thúc cuộc đời là không chính xác: “Ông muốn sống, làm việc và hoàn toàn không có ý định chết. Ví dụ, trong ngày đi đấu súng ông còn yêu cầu chuyển các vở kịch cho tờ tạp chí của mình”. Ngoài ra, nhà nghiên cứu còn nhận xét rằng đóng vai trò quan trọng trong câu chuyện này là người làm chứng của George Dantes, hầu tước Olivie d'Arshiak: ông ta luôn tìm cách hoà giải các đối thủ. Ông ta đã thực hiện thành công điều đó vào tháng 11 năm 1836, khi Pushkin lần đầu tiên thách đấu với Dantes. Chính vì sợ d'Arshiak lại thuyết phục được họ, đêm trước cuộc đấu súng bất hạnh Pushkin tìm mọi các tránh gặp ông ta. Qua các hồi ức của những người đương thời, Sedova nhận xét rằng trước ngày xảy ra cuộc đấu súng Pushkin viếng thăm rất nhiều bạn bè. Thậm chí ông còn đến gặp cả nhà văn Fedorov và trò chuyện gần hai giờ đồng hồ, mặc dù Fedorov là người mà Pushkin luôn luôn coi thường. Từ đó có thể kết luận rằng Pushkin muốn kéo dài thời gian. Nhiệm vụ thứ hai mà nhà thơ đã hoàn thành là ý định bảo vệ người làm chứng của mình Konstantin Danzas khỏi bị truy tố vì đã không báo cáo về cuộc đấu súng đang được chuẩn bị. Sedova cho rằng Pushkin đã chọn trước cho mình người làm chứng là Danzas và thoả thuận cùng với ông ta về điều đó. Tuy nhiên về sau nhà thơ đã làm tất cả để chứng minh rằng thoả thuận đó xuất hiện ngay trước cuộc đấu súng. Pushkin đã giới thiệu người làm chứng của mình vào phút chót. Ông đã giải quyết hai vấn đề - bảo vệ cho Danzas khỏi bị truy tố và loại trừ khả năng bị d'Arshiak hoà giải. Không một ai để ý tới những chi tiết tế nhị này. Về sau Danzas bị xét xử vì ông là người làm chứng cho Pushkin và không báo cáo về cuộc đấu súng. Các lời khai của ông ta cho thấy rằng vào ngày xảy ra cuộc đấu súng ông đã gặp Pushkin bên chiếc cầu ở Vườn mùa hạ. Họ lặng lẽ đi tới đại sứ quán Pháp và gặp d'Arshiak. Chỉ ở đây Pushkin mới kể cho ông ta hết mọi việc, họ đưa ra các điều kiện của cuộc đấu súng, rồi các thành viên đi đến sông Đen. Và kết quả điều tra đã chứng minh rằng Danzas quả thật là người làm chứng một cách ngẫu nhiên, vào đúng phút chót, tình tiết này đã làm giảm tội cho ông ta. Tuy nhiên, trên đây vẫn là những giả thuyết về cuộc đấu súng của Pushkin. Trong tương lai các nhà lịch sử và nhà nghiên cứu sẽ còn phải đưa ra các giả thuyết khác trên cơ sở những tư liệu có thể sẽ được tìm thấy nữa - chỉ một điều chúng ta có thể nói chắc chắn: ngày 10 tháng 2 năm 1837 nước Nga đã vĩnh viễn mất đi một Thi sĩ Vĩ đại – “Mặt trời của thi ca Nga”. GV: Hứa Thị Hường
__________________
|
|
#2
|
|||
|
|||
|
2. Cho em biết cách ôn tập văn dễ nhất? ( thienmy92@yahoo.com)
Có nhiều cách thức để học tập môn Văn tốt, đã hướng dẫn các em một số phương pháp, lần này sẽ hướng dẫn các em cách ôn tập nhanh, dễ nhớ là: LẬP DÀN Ý CHI TIẾT Nếu em đã từng xem đáp án một đề thi ĐH môn Văn với thang điểm chia cho từng ý nhỏ, chính xác đến từng 0,5 điểm, bạn sẽ hiểu: một bài văn đủ ý là điều cực kỳ quan trọng. Hãy tưởng tượng với một bài văn cần có đủ 4 ý, bạn diễn đạt rất hay, phân tích sát vấn đề, sâu sắc trong từng khía cạnh, dẫn chứng rất sinh động, nhưng em chỉ nêu được 2 trong 4 ý cần có. Điều gì sẽ xảy ra? Bài văn của em có hay đến mức nào đi chăng nữa điểm số tối đa của em cũng chỉ đạt 50-60% số điểm, không hơn. Lập dàn bài trước khi làm bài thi chính là một cách để tránh sót và lặp ý. Dàn bài được lập một cách chi tiết hay sơ lược phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Trong quá trình ôn tập, chúng mình nên làm quen với việc lập dàn ý chi tiết. Còn trong phòng thi, để tiết kiệm thời gian chúng ta nên vạch nhanh một số ý chính để hình dung hướng đi bài viết của mình. Trong quá trình làm bài, em sẽ bổ sung dàn bài của mình bằng những ý nhỏ hơn và tiến hành triển khai trong bài viết. Thường thì chỉ với bài văn nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi, hay trong cả giai đoạn thì việc lập dàn bài mới thực sự phát huy lợi thế của mình. Sau đây là một số gợi ý để có dàn ý tốt. a. Nắm chắc nội dung toàn tác phẩm Để biết mình đã nắm chắc tác phẩm hay chưa, bạn hãy trả lời các câu hỏi sau. Tác phẩm này do ai sáng tác? Trong hoàn cảnh nào? Đề tài và chủ đề của tác phẩm? Bạn có thể tóm tắt nội dung của tác phẩm đó chưa (đối với tác phẩm văn xuôi)? Đối với tác phẩm thơ thì không chỉ nắm nội dung toàn tác phẩm bạn còn phải học thuộc lòng những phần nội dung nằm trong chương trình học. Các thủ pháp nghệ thuật chủ đạo trong tác phẩm này là gì? v.v b. Xem xét các dạng đề đối với tác phẩm đó (dạng đề ở đây được hiểu là về thể loại và nội dung) VD: Với tác phẩm Chí Phèo, chúng ta có thể gắt gặp các dạng đề nghị luận về: các nhân vật trong tác phẩm (Chí Phèo, Bá Kiến), giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm, nghệ thuật miêu tả tâm lý và khắc họa nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện... c. Lập dàn bài chi tiết cho từng dạng đề ở mỗi tác phẩm Đối với mỗi dạng đề các bạn cần lập ra cho mình một dàn bài. Tuy hơi mất thời gian nhưng điều này sẽ giúp bạn lường hết mọi tình huống đề có thể bắt gặp và không phải lúng túng khi làm bài thi. Với đề phân tích nhân vật, bao giờ các bạn cũng phải vạch cho mình hai ý chính nhất: ngoại hình và tính cách. Bên cạnh đó một số yếu tố như: ngôn ngữ, hành động, cử chỉ, mối quan hệ với xã hội với các nhân vật khác. Tất cả các yếu tố này tựu trung lại cũng bổ trợ và làm bật lên tính cách của nhân vật. Song song với phân tích nội dung, các em cần lưu ý và nhấn mạnh đến các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật. Hầu hết các nhân vật trong tác phẩm văn học thường mang tính hình tượng, đại diện cho một tầng lớp, một thế hệ nên sau quá trình phân tích ngoại hình và tính cách các em cần rút ra được thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác phẩm đó. Trong mỗi ý lớn như vậy sẽ có thêm nhiều ý nhỏ hơn, em hãy dùng một mũi tên cho một ý để sơ đồ hóa dàn bài của mình. Và ở mỗi ý nhỏ cần tìm ra những dẫn chứng phù hợp minh chứng cho những đặc điểm đó. Dẫn chứng chính là những đoạn trích trong tác phẩm nên cần học thuộc một số câu văn tiêu biểu để minh chứng cho những ý kiến đánh giá của mình trong bài viết. Qua phân tích những dẫn chứng đó nhân vật sẽ hiện lên với đầy đủ tính cách, chân thực và sống động. Đối với dạng đề tổng hợp nghị luận về một vấn đề văn học (VD: giá trị nhân đạo trong các tác phẩm của Nam Cao), chúng ta cần đi từ vấn đề bao quát nhất: - Nhân đạo Nhân đạo là gì? Biểu hiện của tinh thần nhân đạo: Yêu thương con người, cảm thông sâu sắc với những nỗi đau của con người, thông cảm với hoàn cảnh sống của nhân vật (nhiều khi tinh thần nhân đạo được phản ánh ngay trong những giá trị hiện thực), hướng con người một cuộc sống tốt đẹp hơn ...đều là những biểu hiện của tinh thần nhân đạo. - Tinh thần nhân đạo trong tác phẩm của Nam Cao + Khái quát về các tác phẩm của Nam Cao, các đề tài chính (đời sống của người nông dân và trí thức nghèo) + Tinh thần nhân đạo thể hiện trong tác phẩm của Nam Cao như thế nào? bằng những hình ảnh gì? trong tác phẩm nào? Vấn đề tác giả đặt ra trong tác phẩm là gì?........ + Giá trị nhân đạo biểu hiện trong tác phẩm của Nam Cao có gì khác so với các nhà văn khác ở các tác phẩm khác không? (có thể so sánh với các tác phẩm Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ) v.v Lần lượt, em tự đặt ra những câu hỏi và trả lời cho câu hỏi của chính mình. Điều này sẽ giúp các em vạch được cho mình những ý chính thật đầy đủ. Sau khi có được những ý chính em mới triển khai các ý phụ. Thêm vào đó em có thể tham khảo các bài văn hay để bổ sung các ý cần thiết. Bằng cách sơ đồ hóa dàn bài bằng những gạch đầu dòng và mũi tên sẽ giúp em thấy rõ các ý mà mình định triển khai. Và như thế, việc sót ý là một điều hiếm khi xảy ra khi em làm bài thi. Chúc các em thành công! GV: Hứa Thị Hường
__________________
|
|
#3
|
|||
|
|||
|
3.Em nhe nói nhiều về phong cách nhà văn Nguyễn Tuân nhưng không biết có gì đặc biệt hay lạ không, có thể giúp em hiểu vấn đề này với ( quynhnguyen@gmail.com)
Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam với phong cách nghệ thuật độc đáo. Đây là một cây bút tài hoa, uyên bác được nhiều bạn đọc yêu mến, khâm phục. Xung quanh chuyện đời và chuyện nghề của cụ có nhiều câu chuyện rất thú vị giúp chúng ta hiểu hơn về người nghệ sĩ cả một đời lao động sáng tạo nghiêm túc này. Phong cách Nguyễn Tuân Hồi những năm 60 của thế kỷ trước, cửa hàng bia hơi mậu dịch Cổ Tân ở xế cửa Nhà hát lớn thành phố Hà Nội là một trong những hàng bia hơi đông khách nhất và được mang danh là “quán bia nghệ sĩ” vì có nhiều văn nghệ sĩ đến uống bia, trong đó có mấy vị thường xuyên “trồng cây si” ở đây như cố nhà văn Nguyễn Tuân, cố hoạ sĩ Hoàng Vĩnh Quý (con trai cố Bộ trưởng Bộ văn hoá Hoàng Minh Giám)...Thời bao cấp, phương thức bán bia của cửa hàng này là: mọi người đến xếp hàng. Khi đến lượt, người mua trả 6 hào và được cô thu tiền tách ra 2 đồng sèng (nút chai bia đã đập phẳng), đục lỗ ở giữa rồi xâu vào một sợi dây thép căng từ nơi thu tiền đến chỗ lấy bia. Người mua đưa tay giữ và kéo 2 đồng sèng đó tới cuối dây. Người giao bia nhận sèng rồi đưa cho khách 2 vại bia đầy (cốc thuỷ tinh 500ml), khách tự bê bia ra bàn và tìm ghế ngồi uống. Về mùa đông, khách tương đối vắng, mỗi lần xếp hàng và lấy xong bia mất chừng 5 phút, nhưng mùa hè phải mất tới 15-20 phút. Hôm nào không may, xếp hàng gần đến nơi thì nhà hàng báo hết bia, vậy là khách tự giải tán với khuôn mặt ỉu xìu! Riêng mấy vị “lão làng” như Nguyễn Tuân thì trên bàn nơi cụ ngồi, lúc nào cũng có vài vại bia đầy. Đó là bia của những vị khách mến mộ nhà văn, mua được 2 cốc bia đem đến “kính mời” nhà văn một cốc. Ai mời, nhà văn cũng nhận. Khi có người quen đến chào, nhà văn lại chỉ một cốc bia trên bàn và bảo: Uống đi rồi đi xếp hàng. Một buổi chiều, tôi đến chào nhà văn rồi bảo: “Thưa bác, bác mới có bài “Cốm”? Nguyễn Tuân chỉ một cốc bia và phán: “Thế mày thấy thế nào?” Uống xong ngụm bia, tôi thưa: Dạ, hình như không được bằng bài “Phở”.Nguyễn Tuân chỉ vào cái ghế nhựa bảo: - Ngồi xuống, tao nói cho mà nghe. Ngày xưa, để viết được bài “Phở”, tao phải mất 30 buổi tối. Cứ khoảng 9 giờ, lúc khách ăn phở đã vãn mà các rạp hát chưa tan, tao đến quán phở ở đầu ngõ Tạm Thương hàng Bông, gọi 3 xu cút rượu cuốc lủi (rượu nếp nấu lậu) và 2 xu xương (đã hầm nhừ làm nước phở). Tao ngồi ngất ngưởng, vừa nhăm nhi, vừa moi ông chủ gánh phở những bí quyết của cái nghề nấu món đặc sản Nam Định ấy. Uống hết rượu, tao gọi bát phở chín 5 xu, vị chi mỗi tối mất 1 hào. Sau 30 tối, tức mất 3 đồng tao mới viết được bài “Phở” để rồi được nhuận bút một đồng hai! Còn bây giờ, món cốm Vòng (một làng làm cốm nổi tiếng ở ngoại thành Hà Nội) đã mai một rồi, tao nhớ lại để viết bài “Cốm” lấy 8 đồng uống bia. Thế thì làm sao mà bằng bài “Phở” được! Cuối năm 1972, Mỹ dùng máy bay B.52 ném bom, bắn phá Hà Nội, các cơ quan và nhân dân triệt để sơ tán, nhưng vẫn còn những bộ phận ở lại chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Chiều 24.12, tôi đạp xe từ nơi sơ tán về, xem Hà Nội đánh trả B.52 ra sao. Tổng thống Mỹ R.Nixon đã tuyến bố ngừng đánh phá nhân lễ Noel. Vượt cầu phao Bắc Cổ, tôi đạp xe tiếp. Đến gần Nhà hát lớn, thấy quán bia Cố Tân mở cửa, tôi rẽ vào. Nhà văn Nguyễn Tuân đang ngồi cùng anh Hoàng Vĩnh Quý. Vừa chào xong, bác Tuân chỉ vào ghế bảo: “Uống đi, hôm nay không phải xếp hàng đâu! Tao vừa đến Hội nhà văn. Tao bảo ông thường trực: “Ông cho tôi mượn sổ danh sách hội viên”. Ông ta hỏi lại: “Thưa, để bác làm gì ạ?”. Mày biết tao trả lời ra sao không? Tao bảo: “À, để tôi gạch tên những đứa nào không đáng đi đưa đám tôi!” Phong cách Nguyễn Tuân như vậy đó.Hôm nay ghi lại hai mẩu chuyện nhỏ này để thắp một ném tâm nhang tưởng nhớ nhà văn “Vang bóng một thời” nhân dịp đầu Xuân. GV: Hứa Thị Hường
__________________
|
|
#4
|
|||
|
|||
|
4. Hình tượng người nông dân trong tác phẩm Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu sao lại đặc biệt?(locnhok93@yahoo.com)
Gợi ý Thế kỉ XIX là thời kì lịch sử "đau thương nhưng vĩ đại" của dân tộc ta. Ở thế kỉ ấy, có một nhà thơ mù nhưng tấm lòng sáng như gương, người đã thấy hết những gì mà bao nhiêu người mắt sáng không nhận ra, người đó là nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Và, trong văn học Việt Nam, cho đến Nguyễn Đình Chiểu, chưa có một hình tượng nhân dân nào chân thực và cảm động hơn người nghĩa sĩ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của ông. Nói đúng ra, trước Nguyễn Đình Chiểu, con người bình thường cũng xuất hiện trong văn chương Việt Nam. Tuy nhiên, đó hoặc là những ngư phủ, tiều phu hình bóng thấp thoáng, khi xa khi gần trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, hoặc là đám đông lố nhố, hằng ngày là cục đất củ khoai, khi có dịp trở nên những "kiêu binh" lỗ mãng trong Hoàng Lê nhất thống chí. - Người nông dân xuất hiện trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu hoàn toàn khác hẳn. Họ thật sự là những người bình thường, là dân ấp, dân lân, ngoài cật có một manh áo vải. Bản tính lại hiền lành, chất phác, quanh năm suốt tháng côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó. Bên trong luỹ tre làng, 'họ chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ, thành thục với nghề nông trang: Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm. Nói như nhà thơ Thanh Thảo sau này, "họ lấm lấp sình lầy ấy đã bước vào thơ Đồ Chiểu. Đành rằng nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã có tâm lòng sáng để phát hiện ra họ, nhưng trước hết bởi dù không áo mão cân đai phẩm hàm văn võ họ vẫn để lại những vệt bùn làm vinh dự cho thơ . Đó chính là tấm lòng yêu nước, trọng nghĩa của người nông dân. - Khi nghe tin quân giặc đến, thể hiện ý thức dân tộc, lòng yêu nước mãnh liệt - Cuộc đối đầu một mất một còn giữa những người nông dân yêu nước với kẻ thù là cuộc đối đầu không cân sức. Họ thất thế ngay từ ban đầu khi tự giác đứng lên, không có ai tổ chức (ai đòi, ai bắt), chẳng có binh thư, binh pháp. Còn quân giặc thì chuẩn bị bài bản, có quy mô, quy củ. Họ thất thế khi xung trận mà ngoài cật có một manh áo vải, trong tay cầm ngọn tầm vông, còn kẻ thù lại có tàu sất tàu đồng, đạn nhỏ, đạn to. Song chí căm thù, lòng yêu nước đã khiến những người nông dân trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ, liều mình như chẳng có ai. Ai cũng biết cái giá cuối cùng của hành động ấy. Những nghĩa sĩ nông dân càng biết rõ điều đô: Những nghĩa sĩ nông dân trở thành :những anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang" (Phạm Văn Đồng). Hình tượng người nghĩa sĩ chân đất lần đầu tiên xuất hiện trong văn học Việt Nam đã mang hình dáng đầy bi tráng. Nó như một tượng dài sừng sững tạc vào không gian lẫn với thời gian để nói với muôn đời rằng: Thác mà trả nước non rồi nở danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ. Sự gắn bó, lòng yêu thương và cảm phục đã khiến Nguyễn Đình Chiểu ghi tạc vào thơ văn mình hình tượng người nghĩa sĩ Cần Giuộc thật bi tráng. Hình tượng ấy mang sức nặng của một thời đại "nước mắt anh hùng lau chẳng ráo" và tấm lòng yêu thương bi thiết của nhà thơ mù đất Đồng Nai - Gia Định. Những người anh hùng "sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc". Còn nhà thơ của họ đã dựng lại tượng đài ấy "nghìn năm" trong kí ức tâm hồn của người đời bằng văn chương. GV: Hứa Thị Hường
__________________
|
![]() |
| Ðiều Chỉnh | |
| Xếp Bài | |
|
|